Trang Chủ > Vắc-xin & bệnh thường gặp > Bệnh Sởi
Bệnh Sởi
1. Tổng quan
Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp do vi-rút gây ra, lây truyền qua đường không khí với khả năng lây lan rất cao1, có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng và tử vong2 . Tác nhân gây bệnh là vi-rút Sởi, một thành viên của chi Morbillivirus thuộc họ Paramyxoviridae3. Bệnh cảnh lâm sàng điển hình bao gồm giai đoạn khởi phát với sốt, viêm long và dấu hiệu Koplik đặc hiệu, tiếp theo là giai đoạn toàn phát với ban dát sẩn lan tỏa theo trình tự đặc trưng4,5. Bệnh Sởi có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng ở khoảng 30% trường hợp6, trong đó các biến chứng thường gặp liên quan đến đường hô hấp, hệ thần kinh trung ương và tiêu chảy7,8. Mặc dù vắc-xin đã ngăn ngừa khoảng 60 triệu ca tử vong (2000-2023)1, tình trạng trì trệ trong độ bao phủ toàn cầu (83% liều đầu tiên năm 2023) đã dẫn đến sự gia tăng gánh nặng dịch tễ2, với ước tính 11 triệu ca mắc và 95.000 ca tử vong vào năm 20249. Mục tiêu của WHO vẫn là loại trừ bệnh Sởi thông qua tiêm chủng và giám sát2.
2. Lây truyền
Phương thức lây truyền chính là qua đường hô hấp, do tiếp xúc trực tiếp với các giọt bắn chứa vi-rút từ đường mũi họng của bệnh nhân khi họ ho, hắt hơi hoặc nói chuyện1. Vi rút sởi có khả năng duy trì hoạt động và tính lây nhiễm trong không khí hoặc trên các bề mặt bị ô nhiễm lên đến 2 giờ, ngay cả sau khi người bệnh đã rời khỏi khu vực đó1,3. Giai đoạn lây nhiễm của người bệnh bắt đầu từ 4 ngày trước khi phát ban và kéo dài đến 4 ngày sau khi ban xuất hiện3.
Sởi được biết đến là một trong những bệnh truyền nhiễm có khả năng lây lan mạnh nhất trên toàn cầu1. Chính vì vậy, một người mắc bệnh có thể lây truyền cho 9 trong số 10 người tiếp xúc gần nếu họ chưa được bảo vệ1. Hệ số lây nhiễm cơ bản của Sởi ở các quốc gia phát triển được ước tính trung bình là 16, tức là một cá thể nhiễm bệnh điển hình khi được đưa vào một quần thể gồm toàn các cá thể nhạy cảm sẽ tạo ra trung bình 16 ca nhiễm thứ cấp khác10. Hệ số này ở bệnh Sởi cao hơn so với nhiều bệnh truyền nhiễm khác như Thủy đậu (11), Quai bị (12), Rubella (7)10. Bất kỳ ai không có miễn dịch với vi-rút Sởi, dù là do chưa từng mắc bệnh hay chưa được tiêm phòng đầy đủ vắc xin, đều có nguy cơ bị nhiễm vi-rút1.
3. Triệu chứng
Sau khi phơi nhiễm, các triệu chứng của bệnh Sởi thường khởi phát sau khoảng 10–14 ngày4. Giai đoạn khởi phát (giai đoạn viêm long) trong 2 – 4 ngày, đặc trưng bởi sốt cao, viêm long đường hô hấp trên (ho, chảy mũi) và viêm kết mạc4. Vào ngày thứ hai hoặc thứ ba của bệnh, dấu hiệu Koplik có thể xuất hiện; đây là các hạt nhỏ có kích thước 0,5 – 1 mm màu trắng/xám có quầng ban đỏ nổi gồ lên trên bề mặt niêm mạc má (phía trong miệng, ngang răng hàm trên)4. Các hạt Koplik thường chỉ tồn tại trong 12-14 giờ nhưng được xem là dấu hiệu đặc hiệu có giá trị chẩn đoán sớm và chắc chắn bệnh Sởi5.
Hình 1. Các hạt Koplik3
Giai đoạn toàn phát, kéo dài 2-5 ngày, thường bắt đầu sau 3-4 ngày sốt cao, đặc trưng bởi sự xuất hiện của ban dạng dát sẩn4. Ban có trình tự xuất hiện điển hình: khởi phát từ sau tai, lan ra mặt, cổ, sau đó tuần tự xuống thân mình và tứ chi4. Các ban này có thể hợp lại và khi căng da sẽ biến mất; thân nhiệt thường giảm dần khi ban đã mọc hết toàn thân4.
Hình 2. Ban Sởi3
Tiếp theo là giai đoạn hồi phục, ban sẽ nhạt màu dần, chuyển sang màu xám và bong vảy, để lại các vết thâm đặc trưng (thường gọi là “vằn da hổ”) trước khi biến mất theo đúng thứ tự đã xuất hiện4. Nếu không có biến chứng, bệnh nhân sẽ tự khỏi, mặc dù triệu chứng ho có thể kéo dài thêm 1-2 tuần4.
Hình 3. Diễn tiến của bệnh Sởi4
4. Biến chứng
Bệnh Sởi có thể gây ra nhiều biến chứng sức khỏe nghiêm trọng1. Các nhóm đối tượng có nguy cơ cao gặp biến chứng nặng bao gồm trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 5 tuổi, người lớn trên 20 tuổi, phụ nữ mang thai và những người có hệ miễn dịch bị suy yếu do các bệnh lý như bệnh bạch cầu hoặc nhiễm HIV3.
Ước tính có khoảng 30% trường hợp mắc Sởi sẽ gặp biến chứng7. Các biến chứng phổ biến nhất liên quan đến đường hô hấp, hệ thần kinh trung ương và tiêu chảy7,8. Trong các biến chứng trên hệ hô hấp, viêm phổi là nguyên nhân tử vong hàng đầu, có thể xảy ra do vi-rút Sởi xâm nhập trực tiếp vào nhu mô phổi hoặc do bội nhiễm vi khuẩn7. Ở trẻ sơ sinh tử vong vì bệnh Sởi, viêm phổi chiếm khoảng 60% trường hợp7.
Đối với hệ thần kinh trung ương, viêm não sau Sởi có thể xuất hiện dưới dạng cấp tính hoặc mạn tính, điển hình là viêm não xơ hóa bán cấp7. Đáng chú ý, có đến 50% bệnh nhân Sởi không có triệu chứng thần kinh lâm sàng vẫn phát hiện bất thường trên điện não đồ, cho thấy sự xâm nhập của vi-rút vào hệ thần kinh trung ương là đặc điểm phổ biến của bệnh Sởi7. Ở nhóm trẻ từ 10–14 tuổi, viêm não cấp cũng là nguyên nhân tử vong thường gặp,7 phản ánh mức độ nghiêm trọng của các biến chứng thần kinh. Mức độ viêm não dao động từ nhẹ đến nặng; mặc dù nhiều bệnh nhân có thể hồi phục, tỷ lệ để lại di chứng thần kinh vẫn cao7.
Một biến chứng khác của bệnh Sởi là mù lòa ở trẻ em, với cơ chế bệnh sinh liên quan đến các tổn thương giác mạc8. Tình trạng này đặc biệt nghiêm trọng khi kết hợp với thiếu hụt vitamin A, có thể dẫn đến loét giác mạc và tiến triển thành bệnh khô giác mạc8. Đối với phụ nữ có thai, việc mắc bệnh Sởi trong thai kỳ không chỉ đối mặt với nguy cơ biến chứng cho bản thân mà còn có thể gây sinh non, sảy thai hoặc thai nhi có cân nặng khi sinh thấp3.
Tỷ lệ tử vong chung dao động từ 0,1% ở các nước có khả năng tiếp cận chăm sóc y tế tốt, nhưng có thể cao tới 6% ở các nước đang phát triển8.
Hình 4. Các biến chứng của bệnh Sởi
5. Gánh nặng dịch tễ
Trước khi vắc-xin Sởi được giới thiệu vào năm 1963 và triển khai tiêm chủng rộng rãi, các đại dịch Sởi xảy ra theo chu kỳ 2-3 năm, ước tính gây ra 2,6 triệu ca tử vong mỗi năm1.
Bệnh Sởi đòi hỏi mức miễn dịch cộng đồng rất cao để ngăn chặn lây truyền, tuy nhiên dưới tác động của đại dịch COVID-19, tỷ lệ bao phủ toàn cầu ước tính đối với liều vắc-xin Sởi đầu tiên đã sụt giảm xuống còn 81% – mức thấp nhất được ghi nhận kể từ năm 20082. Mặc dù chỉ số này đã phục hồi lên mức 83% vào năm 2022, song đà tăng trưởng đã chững lại và không ghi nhận sự thay đổi trong năm 20232.
Gánh nặng dịch tễ Sởi toàn cầu đã gia tăng đáng kể, thể hiện qua việc số quốc gia chịu ảnh hưởng bởi các đợt bùng phát lớn tăng từ 36 (năm 2022) lên 57 (năm 2023)3. Tương ứng, số ca mắc ước tính trên toàn thế giới đã tăng 20%, từ 8.645.000 ca lên 10.341.000 ca, trong đó 107.500 ca tử vong, phần lớn xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi3.
Trong năm 2025, các đợt bùng phát dịch Sởi tiếp tục được ghi nhận ở tất cả các khu vực trên thế giới11. Sự gia tăng đi lại và du lịch quốc tế tạo điều kiện cho vi-rút lây lan nhanh chóng; bất kỳ ai không được bảo vệ đều có thể mắc bệnh khi ở nước ngoài và trở thành nguồn lây cho cộng đồng khi trở về11.
Tại Hoa Kỳ, mặc dù bệnh Sởi đã được công bố loại trừ vào năm 2000, các ca bệnh mới vẫn liên tục được ghi nhận bởi các du khách chưa được tiêm chủng bị phơi nhiễm tại quốc gia khác12. Tình hình dịch tễ cho thấy sự gia tăng đáng báo động trong năm 2025, với tổng cộng 1.596 trường hợp mắc được xác nhận tính đến ngày 14 tháng 1012. Trong đó, đã có 44 đợt bùng phát được báo cáo và 86% số ca bệnh (1.380 trên 1.596 ca) có liên quan đến các đợt dịch này10. Để so sánh, cả năm 2024 chỉ ghi nhận 16 đợt bùng phát, với 69% số ca bệnh liên quan đến dịch (198 trên 285 ca)12.
Tại Việt Nam, sự xuất hiện của các ca mắc mới trong năm 2024 cho thấy nguy cơ bùng phát dịch sởi vẫn hiện hữu13. Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã ban hành các quyết định phê duyệt kế hoạch triển khai chiến dịch tiêm chủng vắc xin phòng, chống dịch Sởi13,14. Theo số liệu được Bộ Y tế công bố, tính từ đầu năm 2024 đến hết ngày 31/12/2024, trên phạm vi toàn quốc đã ghi nhận 45.554 trường hợp sốt phát ban nghi sởi; trong đó xác định được 7.583 trường hợp dương tính và 16 ca tử vong có liên quan13. Trong năm 2025, tính từ đầu năm đến ngày 25/04/2025, cả nước đã ghi nhận rải rác tổng cộng 81.691 trường hợp nghi mắc Sởi tại 63 tỉnh, thành phố15 và ghi nhận 2 ca tử vong liên quan đến Sởi16.
Hình 5. Gánh nặng bệnh Sởi
6. Giá trị của vắc-xin trong phòng chống bệnh Sởi
Tất cả các quốc gia thuộc sáu khu vực của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cam kết loại trừ bệnh Sởi, với các định hướng được phác thảo trong những khuôn khổ chiến lược then chốt như Chương trình Tiêm chủng 2030 (IA2030) và Khung Chiến lược Sởi và Rubella2. Các khuyến cáo cốt lõi của chiến lược này tập trung vào việc đạt được miễn dịch cộng đồng cao thông qua tiêm chủng và tăng cường hệ thống giám sát2.
Kể từ khi vắc-xin được đưa vào sử dụng, việc thúc đẩy các hoạt động tiêm chủng trên phạm vi toàn cầu đã mang lại những thành tựu đáng kể trong công tác phòng chống bệnh Sởi17. Ước tính, khoảng 60 triệu ca tử vong đã được ngăn ngừa trong giai đoạn 2000–2023, thể hiện qua sự sụt giảm số ca tử vong hàng năm từ 800.062 ca vào năm 2000 xuống còn 107.500 ca vào năm 20221. Tính đến năm 2017, đã có 80 quốc gia và 2 vùng lãnh thổ được xác nhận loại bỏ hoàn toàn bệnh Sởi18.
Tài liệu tham khảo
1. “Measles”, who.int, Nov. 14, 2024. [Online]. Available: https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/measles. [Accessed: Oct. 18, 2025]
2. “Progress Toward Measles Elimination — Worldwide, 2000–2023”, cdc.gov, Nov 14, 2024. [Online]. Available: https://www.cdc.gov/mmwr/volumes/73/wr/mm7345a4.html. [Accessed: Nov. 05, 2025]
3. “Clinical Overview of Measles”, cdc.gov, May. 23, 2025. [Online]. Available: https://www.cdc.gov/measles/hcp/clinical-overview/index.html. [Accessed: Oct. 18, 2025]
4. Bộ Y tế Việt Nam. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh Sởi. Ban hành kèm theo Quyết định số 1019/QĐ-BYT ngày 26/03/2025.
5. Hội Y học Dự phòng Việt Nam (2023), Khuyến cáo lịch tiêm chủng vắc-xin cho mọi lứa tuổi ở Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội, p.83-88.
6. “Chapter 13: Measles”. cdc.gov, Apr. 24, 2024. [Online]. Available: https://www.cdc.gov/pinkbook/hcp/table-of-contents/chapter-13-measles.html. [Accessed: Nov. 05, 2025].
7. John E. Bennett, et al (2015). Mandell, Douglas, and Bennett’s principles and practice of infectious diseases, eighth edition, Elsevier Saunder, Philadenphia, 1, 1969-1970.
8. David M. Knipe, et al (2013). Virology Fields, sixth edition, Lippincott Williams Wilkins, Philadenphia, 1, 1062-1063.
9. World Health Organization. (2025). Progress towards measles elimination – worldwide, 2000–2024. https://iris.who.int/server/api/core/bitstreams/8ac932cb-6d3f-4922-8335-f34d70419fe3/content. [Accessed: Jan. 07, 2026].
10. Hethcote, H.W. (2000), The Mathematics of Infectious Diseases. SIAM Review, 42(4), 599-653.
11. “Global Measles Outbreaks”, cdc.gov, Oct. 8, 2025. [Online]. Available: https://www.cdc.gov/global-measles-vaccination/data-research/global-measles-outbreaks/index.html. [Accessed: Oct. 18, 2025]
12. “Measles Cases and Outbreaks”, cdc.gov, Apr. 29,2025. [Online]. Available: https://www.cdc.gov/measles/data-research/index.html. [Accessed: Oct. 18, 2025]
13. Bộ Y tế Việt Nam. Kế hoạch triển khai chiến dịch tiêm chủng vắc xin phòng, chống dịch Sởi năm 2025. Ban hành kèm theo Quyết định số 271/QĐ-BYT ngày 22/01/2025.
14. Bộ Y tế Việt Nam. Kế hoạch triển khai chiến dịch tiêm chủng vắc xin phòng, chống dịch Sởi năm 2024. Ban hành kèm theo Quyết định số 2495 /QĐ-BYT ngày 22/8/2024.
15. “Tình Hình Bệnh Sởi và Các Hoạt Động Phòng Chống Dịch (Tính đến ngày 25/04/2025)”, moh.gov.vn, [Online]. Available: https://moh.gov.vn/tin-lien-quan/-/asset_publisher/vjYyM7O9aWnX/content/tinh-hinh-benh-soi-va-cac-hoat-ong-phong-chong-dich-tinh-en-ngay-25-04-2025-. [Accessed: Nov. 05, 2025]
16. “Ghi nhận 2 ca tử vong liên quan đến Sởi”, baochinhphu.vn, Apr. 20,2025. [Online]. Available: https://baochinhphu.vn/ghi-nhan-2-ca-tu-vong-lien-quan-den-soi-102250419233107106.html. [Accessed: Nov. 05, 2025]
17. “Feasibility Assessment of Measles and Rubella Eradication”, who.int, Oct. 8, 2019. [Online]. https://www.who.int/immunization/sage/meetings/2019/october/Feasibility_Assessment_of_Measles_and_Rubella_Eradication_final.pdf. Accessed on Oct. 18, 2025
18. “Global Vaccine Action Plan”, who.int, 2018 https://www.who.int/immunization/global_vaccine_action_plan/web_gvap_secretariat_report_2018.pdf?ua=1. Accessed on Oct. 18, 2025
Bài viết liên quan:
VN-MMR-00244 14012028