Trang Chủ > Vắc-xin & bệnh thường gặp > Thủy Đậu
Bệnh Thủy Đậu
1. Tổng quan
Thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, rất dễ lây lan do vi rút gây ra bệnh thuỷ đậu Varicella-Zoster – thành viên thuộc họ vi rút Herpesviridae, có vật chất di truyền là DNA1-2. Với thời gian ủ bệnh có thể lên đến 21 ngày, bệnh Thủy đậu có thể gây ra gánh nặng dịch tễ đáng kể và dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, đặc biệt là viêm phổi ở người lớn và nhiễm trùng da thứ phát ở trẻ em1,3. Tiêm vắc-xin đã được chứng minh làm giảm đáng kể số ca mắc, mức độ nghiêm trọng của bệnh và tỷ lệ nhập viện trên toàn cầu4-7.
2. Lây truyền
Con đường lây chính là qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ các bóng nước hoặc hít phải các giọt bắn từ dịch tiết đường hô hấp của người bệnh Thủy đậu hoặc dịch tiết từ mụn nước (hiếm gặp)3. Thời kỳ lây nhiễm của bệnh Thủy đậu bắt đầu từ 1-2 ngày trước khi phát ban và kéo dài cho đến khi tất cả các sang thương đã đóng vảy hoàn toàn, thường là 5-7 ngày sau khi bắt đầu xuất hiện ban2. Người đã tiêm vắc-xin vẫn có thể mắc bệnh và lây truyền vi rút cho người khác nếu họ đang ở giai đoạn tổn thương da chưa đóng vảy1,8.
VZV rất dễ lây truyền từ người sang người, dễ hơn quai bị và rubella nhưng ít hơn sởi8. Theo Ủy ban cố vấn tiêm chủng quốc gia Ireland (NIAC), hệ số lây nhiễm cơ bản trung bình ở các quốc gia phát triển R0 = 10-12, nghĩa là 1 người mắc bệnh trung bình sẽ lây nhiễm cho 10-12 người9. Những người chưa từng mắc Thủy đậu hoặc chưa được tiêm vắc-xin phòng bệnh là đối tượng có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh2. Một báo cáo của CDC cho thấy tỷ lệ truyền nhiễm là 87% ở trẻ em chưa miễn dịch khi tiếp xúc trong gia đình10.
3. Triệu chứng
Thời gian ủ bệnh của Thủy đậu thường là 14-16 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn lây, nhưng có thể dao động trong khoảng 10-21 ngày3.
Hình 1. Diễn tiến bệnh Thủy đậu11-12
Các triệu chứng khởi phát không đặc hiệu như sốt (thường nhẹ đến trung bình), mệt mỏi, chán ăn, đau đầu, hoặc đau bụng nhẹ có thể xuất hiện 1-2 ngày trước khi phát ban3. Phát ban điển hình bắt đầu với các nốt dát đỏ, đến các nốt sẩn, rồi thành các bóng nước chứa dịch trong trên nền hồng ban, sau đó, chúng trở nên đục và đóng vảy trong vòng 24-48 giờ3. Các đợt sang thương xảy ra liên tiếp (thường 2-4 đợt trong 5-7 ngày), dẫn đến các tổn thương da khác nhau (dát, sẩn, bóng nước, mụn mủ, đóng vảy) xảy ra cùng lúc trên cùng một vùng da3,13.
Hình 2. Triệu chứng của bệnh Thủy đậu14
Ở người đã được tiêm vắc-xin, nếu vẫn mắc bệnh, biểu hiện lâm sàng thường nhẹ hơn nhiều so với người chưa tiêm vắc-xin1. Mức độ nghiêm trọng của bệnh được phân loại dựa vào số lượng vết tổn thương trên da: nhẹ (< 50 nốt), trung bình (51-499 nốt), nặng (≥ 500 nốt)15.
4. Biến chứng
Người lớn mắc Thủy đậu có nguy cơ bị bệnh nặng, nhập viện và tử vong cao hơn đáng kể so với trẻ em1. Ở người lớn khỏe mạnh mắc Thủy đậu, viêm phổi do VZV là biến chứng nghiêm trọng và phổ biến nhất3. Tuy nhiên, ở người lớn tuổi (> 50 tuổi) và người suy giảm miễn dịch, bệnh zona (Herpes Zoster – HZ) lại xuất hiện nhiều và gây ra biến chứng thần kinh nguy hiểm3,9,13. Nguyên nhân là do sau khi nhiễm Thủy đậu nguyên phát, vi rút không bị loại bỏ hoàn toàn mà tồn tại ở trạng thái tiềm ẩn trong các hạch thần kinh cảm giác và tái hoạt động1. Biến chứng nghiêm trọng phổ biến nhất của bệnh zona là đau dây thần kinh sau Zona (PHN)3. Đây là tình trạng đau dai dẳng kéo dài sau khi các mụn nước đã lành, gây ảnh hưởng nghiêm trọng chất lượng cuộc sống3.
Hình 3. Biến chứng đau dây thần kinh sau zona16
Phụ nữ mang thai mắc Thủy đậu trong 20 tuần đầu thai kỳ có nguy cơ khoảng 0,4-2% sinh con mắc Hội chứng Thủy đậu bẩm sinh (CVS)3. CVS có thể gây ra các dị tật nghiêm trọng cho thai nhi như sẹo da, bất thường chi, bất thường mắt, não và nhẹ cân3.
Biến chứng thường gặp nhất ở trẻ em là nhiễm trùng thứ phát da và mô mềm do Staphylococci hoặc Streptococci nhóm A β-tan huyết1,17. Một số biến chứng có thể gặp khác là viêm não, thất điều tiểu não, viêm khớp, viêm ruột thừa, viêm gan, viêm cầu thận, viêm màng ngoài tim và viêm tinh hoàn1.
Hình 4. Các biến chứng của bệnh Thủy đậu
Những đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh Thủy đậu nghiêm trọng hoặc có biến chứng bao gồm: người suy giảm miễn dịch (do bệnh lý nền như HIV/AIDS, ung thư, hoặc do điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch, hóa trị, xạ trị, steroid liều cao, ghép tạng)1,8, phụ nữ mang thai chưa có miễn dịch, trẻ sơ sinh có mẹ mắc Thủy đậu trong khoảng thời gian quanh lúc sinh (5 ngày trước sinh đến 2 ngày sau sinh), trẻ sinh non, và người lớn chưa có miễn dịch8-9.
5. Gánh nặng dịch tễ
Thủy đậu là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất và xuất hiện rộng rãi trên toàn cầu19. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính gánh nặng hàng năm trên toàn cầu bao gồm 4,2 triệu ca biến chứng nặng dẫn đến nhập viện và 4.200 ca tử vong3. Tại các quốc gia khí hậu ôn đới không có chương trình tiêm chủng, tỷ lệ nhiễm vi rút Thủy đậu gần như 100% ở người trưởng thành1, và 89-95,9% số ca xảy ra trước 12 tuổi13.
Hình 5. Gánh nặng kinh tế Thủy đậu7,20-25
Tại Hoa Kỳ, trước khi cấp phép vắc-xin, ước tính có khoảng 4 triệu ca mắc, 10.500–13.500 ca nhập viện và 100–150 ca tử vong mỗi năm1. Hiện tại, con số này cải thiện đáng kể, ước tính ít hơn 150.000 ca mắc, 1.400 ca nhập viện và 30 ca tử vong mỗi năm6. Phần lớn các đợt bùng phát hiện nay được ghi nhận ở các ở những người chưa được tiêm chủng, với một vài báo cáo ở những người đã tiêm chủng, triệu chứng chỉ là nhẹ và không có biến chứng26.
Tại Việt Nam, mùa Thủy đậu cao điểm thường ở giai đoạn Đông – Xuân từ tháng 12 đến tháng 5 hàng năm27. Theo thống kê của Hội Y học Dự phòng, năm 2016 cả nước ghi nhận được gần 22.000 ca mắc bệnh; năm 2017 tăng 45,9%, chạm mốc 39.000 trường hợp28. Năm 2023, chỉ riêng 7 tháng đầu năm đã có hơn 4.000 ca bệnh, riêng Hà Nội đã có gần 2.000 ca, tăng gấp 11,5 lần so với cùng kỳ năm 2022, cho thấy tỷ lệ bao phủ vắc xin thủy đậu đang bị sụt giảm28-29.
6. Giá trị của vắc-xin trong phòng chống bệnh Thủy đậu
Chương trình tiêm chủng không chỉ giảm gánh nặng về số ca mắc mà còn làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh4,6. Tại Hoa Kỳ, giai đoạn tiêm chủng 1 liều (2000-2006), số ca nhập viện liên quan đến Thủy đậu đã giảm đáng kể hơn 71% (khoảng 50.000 ca) so với thời kỳ trước tiêm chủng (1988-1995), mức giảm được ghi nhận ở tất cả các nhóm tuổi, kể cả nhóm <1 tuổi không phải là đối tượng tiêm vắc-xin5,30. Trong 25 năm đầu tiên, chương trình đã ngăn chặn ước tính 91 triệu ca mắc bệnh Thủy đậu và tiết kiệm 23,4 tỷ đô la chi phí chăm sóc sức khỏe6.
Tại Đài Loan, một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu từ 2004-2014, đánh giá tác động của chương trình tiêm chủng phổ cập (UVV) 1 liều vắc-xin Thủy đậu trên trẻ em, kết quả cho thấy tổng số ca mắc Thủy đậu hàng năm đã giảm hơn 80% sau 11 năm4.
Tại Úc, một phân tích so sánh giai đoạn sau tiêm chủng (2007-2013) với giai đoạn trước (1999-2004) cho thấy tỷ lệ nhập viện do Thủy đậu đã giảm lần lượt là 67% và 84% ở nhóm trẻ 18 tháng tuổi và dưới 18-59 tháng tuổi7. Số ca tử vong do Thủy đậu ở người dưới 40 tuổi cũng giảm đáng kể trong giai đoạn sau tiêm chủng này7.
Tài liệu tham khảo
1. Gershon, A. A., Marin, M., & Seward, J. F. (2018). Varicella Vaccines. In S. A. Plotkin, W. A. Orenstein, P. A. Offit, & K. M. Edwards (Eds.), Plotkin’s vaccines (7th ed., pp. 1145–1180.e17). Elsevier.
2. Heininger, U., & Seward, J. F. (2006). Varicella. The Lancet, 368(9544), 1365–1376. https://doi.org/10.1016/S0140-6736(06)69561-5
3. World Health Organization. (2014, June 20). Varicella and herpes zoster vaccines: WHO position paper, June 2014. Weekly Epidemiological Record, 89(25), 265–288.
4. Cheng, H. Y., Chang, L. Y., Lu, C. Y., & Huang, L. M. (2018). Epidemiology of Breakthrough Varicella after the Implementation of a Universal Varicella Vaccination Program in Taiwan, 2004–2014. Scientific Reports, 8(1), 17192. https://doi.org/10.1038/s41598-018-35586-1
5. Wolfson, L. J., Daniels, V. J., Altland, A., Black, W., Huang, W., & Ou, W. (2020). The Impact of Varicella Vaccination on the Incidence of Varicella and Herpes Zoster in the United States: Updated Evidence From Observational Databases, 1991-2016. Clinical Infectious Diseases, 70(6), 995–1002. https://doi.org/10.1093/cid/ciz211
6. Centers for Disease Control and Prevention. (2024, April 22). Impact of U.S. Chickenpox Vaccination Program. https://www.cdc.gov/chickenpox/vaccination-impact/index.html
7. Sheel, M., Beard, F., Quinn, H., Dey, A., Kirk, M., Koehler, A., et al. (2018). Australian vaccine preventable disease epidemiological review series: Varicella-zoster virus infections, 1998-2015. Communicable Diseases Intelligence, 42. https://doi.org/10.33321/cdi.2018.42.2
8. Centers for Disease Control and Prevention. (2024, 15 tháng 7). Clinical overview of chickenpox (varicella). https://www.cdc.gov/chickenpox/hcp/clinical-overview/index.html
9. National Immunisation Advisory Committee. (2025, September). Chapter 23: Varicella-Zoster. Immunisation Guidelines for Ireland. Health Information and Quality Authority (HIQA).
10.Centers for Disease Control and Prevention. (1996). Prevention of varicella: Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices (ACIP). MMWR Recommendations and Reports, 45(RR-11), 1–36.
11.Centers for Disease Control and Prevention. (2015). Varicella. In J. Hamborsky, A. Kroger, & S. Wolfe (Eds.), Epidemiology and prevention of vaccine-preventable diseases (13th ed., pp. 353–376). Public Health Foundation. https://www.cdc.gov/vaccines/pubs/pinkbook/downloads/varicella.pdf
12.Gershon, A. A., Gershon, M. D., Grose, C., Singer, G. G., Tsvieli, R., & Zeng, M. (2015). Varicella zoster virus infection. Nature Reviews Disease Primers, 1, Article 15014. https://doi.org/10.1038/nrdp.2015.14
13. European Centre for Disease Prevention and Control. (2015). Varicella vaccination in the European Union. ECDC.
14. Centers for Disease Control and Prevention. (2024, 24 tháng 4). Photos of chickenpox (varicella). https://www.cdc.gov/chickenpox/signs-symptoms/photos.html
15.Marin, M., Leung, J., Anderson, T. C., & Lopez, A. S. (2022). Monitoring Varicella Vaccine Impact on Varicella Incidence in the United States: Surveillance Challenges and Changing Epidemiology, 1995–2019. The Journal of Infectious Diseases, 226(Supplement_4), S392–S399.
16. Premier Pain. (n.d.). Post-Herpetic Neuralgia. https://www.mypremierpain.com/blog/treatments/post-herpetic-neuralgia/
17. Wysocki, J., Malecka, I., Stryczynska-Kazubska, J., Rampakakis, E., Kuter, B., & Wolfson, L. J. (2018). Varicella in Poland: Economic burden in children 1–12 years of age in Poland, 2010–2015. BMC Public Health, 18, Article 410. https://doi.org/10.1186/s12889-018-5298-8
18. Nguyễn, T. T. H. (2019, 20 tháng 3). Mắc bệnh Thủy đậu khi mang thai. Hội Nội tiết Sinh sản và Vô sinh TP. Hồ Chí Minh. https://hosrem.org.vn/detailNews/hoivienvacongtacvien/mac-benh-thuy-dau-khi-mang-thai-955
19. Bozzola, E., & Bozzola, M. (2016). Varicella complications and universal immunization. Jornal de pediatria, 92(4), 328–330. https://doi.org/10.1016/j.jped.2016.05.001.
20. Bardach, A., Cafferata, M. L., Klein, K., Cormick, G., Gibbons, L., & Ruvinsky, S. (2012). Incidence and use of resources for chickenpox and herpes zoster in Latin America and the Caribbean–a systematic review and meta-analysis. The Pediatric infectious disease journal, 31(12), 1263–1268. https://doi.org/10.1097/INF.0b013e31826ff3a5
21. Almuneef, M., Memish, Z. A., Balkhy, H. H., Alotaibi, B., & Helmy, M. (2006). Chickenpox complications in Saudi Arabia: Is it time for routine varicella vaccination? International Journal of Infectious Diseases, 10(2), 156–161. https://doi.org/10.1016/j.ijid.2005.02.008
22. Wen, S. C., Best, E., Walls, T., Dickson, N., McCay, H., & Wilson, E. (2015). Prospective surveillance of hospitalisations associated with varicella in New Zealand children. Journal of Paediatrics and Child Health, 51(11), 1078–1083. https://doi.org/10.1111/jpc.12937
23. Chan, J. Y., Tian, L., Kwan, Y., Chan, W. M., & Leung, C. W. (2011). Hospitalizations for varicella in children and adolescents in a referral hospital in Hong Kong, 2004 to 2008: A time series study. BMC Public Health, 11, 366. https://doi.org/10.1186/1471-2458-11-366
24. Hao, M., Wang, X., Du, J., Liu, L., Jiao, Y., Wu, H., Zheng, J., & Li, W. (2015). Cytokine levels are associated with the severity of varicella infections. Journal of Infection and Public Health, 9(2), 190–196. https://doi.org/10.3855/jidc.5255
25. European Centre for Disease Prevention and Control (ECDC). (2010). Varicella surveillance report 2010. Retrieved from https://www.ecdc.europa.eu/en/publications
26. Centers for Disease Control and Prevention. (2024, 24 tháng 4). Varicella outbreak identification, investigation, & control. https://www.cdc.gov/chickenpox/php/outbreak-control/index.html
27. Trung tâm Y tế quận Gò Vấp. (2023, March 27). Bệnh Thủy đậu: Triệu chứng, biến chứng, cách điều trị và một số lưu ý. https://trungtamytegovap.medinet.gov.vn/chuyen-muc/benh-thuy-dau-trieu-chung-bien-chung-cach-dieu-tri-va-mot-so-luu-y-cmobile14393-87716.aspx
28. Trung tâm Tiêm chủng Trẻ em và Người lớn (VNVC). (2024, 18 tháng 9). Bệnh Thủy đậu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng bệnh hiệu quả. https://vnvc.vn/benh-thuy-dau-nguyen-nhan-trieu-chung-va-cach-phong-benh-hieu-qua/
29. VietnamPlus. (2023, 25 tháng 7). [Infographics] Số ca mắc Thủy đậu trên địa bàn Hà Nội tăng trở lại. https://www.vietnamplus.vn/infographics-so-ca-mac-thuy-dau-tren-dia-ban-ha-noi-tang-tro-lai-post885318.vnp
30. Lopez, A. S., Zhang, J., Brown, C., & Bialek, S. (2011). Varicella-Related Hospitalizations in the United States, 2000-2006: The 1-Dose Varicella Vaccination Era. Pediatrics, 127(2), 238–245. https://doi.org/10.1542/peds.2010-0257
Bài viết liên quan
VN-VVX-01155 14012028