Trang Chủ > Vắc-xin & bệnh thường gặp > Quai bị
Bệnh Quai bị
1. Tổng quan
Quai bị là bệnh truyền nhiễm do vi-rút Rubulavirus thuộc họ Paramyxoviridae1 gây ra, thường gây đau, nhạy cảm và sưng ở một hoặc cả hai tuyến nước bọt mang tai1. Bệnh có thể gây ra các biến chứng như điếc vĩnh viễn ở trẻ em hoặc viêm não – một biến chứng hiếm gặp nhưng có thể gây tử vong, tuy nhiên bệnh có thể được phòng ngừa bằng cách tiêm vắc-xin.1
2. Lây truyền
Bệnh Quai bị lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với nước bọt hoặc các giọt bắn đường hô hấp từ người nhiễm khi ho, hắt hơi hoặc nói chuyện, dùng chung các vật dụng có thể dính nước bọt hoặc khi tham gia các hoạt động tiếp xúc gần với người khác1. Thời gian lây nhiễm thường kéo dài từ 2 ngày trước đến 5 ngày sau khi khởi phát sưng tuyến mang tai1.
Nghiên cứu tổng quan hệ thống được tiến hành trên các cơ sở dữ liệu từ tháng 1 năm 2015 và lặp lại tháng 11 năm 2016, có 18 nghiên cứu được chọn, cung cấp 58 ước tính về R₀ ghi nhận kết quả hệ số lây nhiễm cơ bản (R₀) trung vị của Quai bị dao động khoảng từ 11,7 (nước phát triển) đến 15,9 (nước đang phát triển), tức là một cá thể nhiễm bệnh điển hình khi được đưa vào một quần thể gồm toàn các cá thể nhạy cảm sẽ tạo ra trung bình 16 ca nhiễm thứ cấp khác2. Điều này phản ánh khả năng lan truyền cao trong cộng đồng, đặc biệt ở khu vực có mật độ dân số lớn2.
Bất kỳ ai chưa được tiêm phòng đều có nguy cơ mắc bệnh3, và một số ít trường hợp tái nhiễm đã được ghi nhận4.
3. Triệu chứng
Các triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 16 – 18 ngày kể từ khi nhiễm bệnh, nhưng cũng có thể xuất hiện sớm từ ngày thứ 12 hoặc muộn đến ngày thứ 25 kể từ khi nhiễm bệnh4.
Quai bị thường gây đau, nhạy cảm và sưng ở một hoặc cả hai tuyến nước bọt mang tai (vùng má và hàm)5. Sưng thường đạt đỉnh điểm trong vòng 1 đến 3 ngày và sau đó giảm dần trong tuần tiếp theo5. Mô sưng đẩy góc tai lên và ra ngoài5. Khi tình trạng sưng nặng hơn, góc xương hàm dưới tai sẽ không còn nhìn thấy được nữa5.
Hình 1. Tình trạng sưng tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi sàn miệng1
Một bên tuyến nước bọt có thể sưng trước bên kia, và ở 25% bệnh nhân, chỉ có một bên sưng5. Các tuyến nước bọt khác (dưới hàm và dưới lưỡi) dưới sàn miệng cũng có thể sưng nhưng ít thường xuyên hơn (10%)5. Viêm tuyến nước bọt thường kéo dài trung bình 5 ngày và hầu hết các trường hợp đều khỏi sau 10 ngày5.
Hình 2. Diễn tiến của bệnh Quai bị
Nhiễm Quai bị cũng có thể chỉ biểu hiện các triệu chứng không đặc hiệu, hoặc chủ yếu là các triệu chứng hô hấp; hoặc có thể không có triệu chứng5. Trước khi vắc-xin Quai bị ra đời, khoảng 15% đến 24% các trường hợp nhiễm bệnh không có triệu chứng6. Tần suất nhiễm không triệu chứng ở những người đã tiêm vắc-xin vẫn chưa được biết rõ7, nhưng bệnh Quai bị thường nhẹ hơn ở những người đã tiêm vắc-xin6.
4. Biến chứng
Các biến chứng của bệnh Quai bị bao gồm viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm vú, viêm màng não, viêm não, viêm tụy và mất thính lực6. Các biến chứng này ít gặp hơn ở người đã được tiêm vắc-xin6.
Viêm tinh hoàn là biến chứng thường gặp nhất, xuất hiện ở khoảng 30% nam giới chưa tiêm chủng và 6% nam giới đã tiêm chủng mắc Quai bị sau tuổi dậy thì6; trong đó, 60–83% trường hợp chỉ ảnh hưởng một bên tinh hoàn6.
Ở nữ giới, tỷ lệ viêm buồng trứng và viêm vú được ghi nhận ≤1% trong giai đoạn hậu tiêm chủng, mặc dù có khả năng báo cáo chưa đầy đủ6.
Các biến chứng nặng như viêm tụy, viêm màng não, viêm não hoặc điếc rất hiếm, chiếm dưới 1% các ca trong các đợt bùng phát gần đây tại Hoa Kỳ6. Các biến chứng hiếm khác như viêm thận, viêm cơ tim hoặc liệt dây thần kinh sọ cũng đã được ghi nhận, nhưng tử vong do Quai bị là cực kỳ hiếm6.
Nhiễm Quai bị ở phụ nữ mang thai thường diễn tiến lành tính và không nặng hơn so với người không mang thai1. Ngoài ra, không có bằng chứng cho thấy Quai bị trong thai kỳ làm tăng nguy cơ sinh con nhẹ cân hoặc dị tật bẩm sinh, khi so sánh với nhóm không nhiễm bệnh1.
Hình 3. Các biến chứng của bệnh Quai bị
5. Gánh nặng dịch tễ
Trên toàn cầu, bệnh Quai bị vẫn chưa được kiểm soát hiệu quả như sởi và rubella4. Giai đoạn 1999–2019, trung bình mỗi năm có khoảng 500.000 ca được báo cáo cho Tổ chức Y tế Thế giới, song con số thực tế có thể cao hơn do nhiều quốc gia không bắt buộc báo cáo bệnh này4.
Theo ECDC, tại EU/EEA, năm 2022 ghi nhận 2.593 ca, tương ứng tỷ lệ 0,7/100.000 dân, tăng so với năm 2021 (0,4/100.000) nhưng thấp hơn mức 1,7–4,2/100.000 trong giai đoạn trước7. Theo phân bố khu vực, trong năm 2022, ba quốc gia Ý, Ba Lan và Tây Ban Nha chiếm 68% tổng số ca bệnh Quai bị được ghi nhận. So với năm 2021, hầu hết các quốc gia đều ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh trong năm 2022. Xét theo độ tuổi và giới tính, nhóm 1–4 tuổi là nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất, với tỷ lệ mắc 4,2 trường hợp trên 100.000 dân, tiếp theo là nhóm 5–9 tuổi với tỷ lệ 3,9 trường hợp trên 100.000 dân. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới (54%) cao hơn nữ giới, tương ứng với tỷ lệ nam:nữ là 1:1,18 7.
Hình 4. Gánh nặng dịch tễ bệnh Quai bị tại Châu Âu
Tại Hoa Kỳ, đầu những năm 2000, số ca mắc Quai bị được báo cáo đã giảm xuống còn trung bình dưới 300 ca mỗi năm4. Tuy nhiên, từ năm 2006, các đợt bùng phát trở lại, chủ yếu ở thanh thiếu niên và người trưởng thành đã tiêm đủ liều, thường xảy ra tại trường đại học hoặc khu vực đông dân cư4.
Ở Việt Nam, Quai bị vẫn lưu hành thường xuyên, đứng thứ tư trong năm bệnh truyền nhiễm phổ biến nhất tại miền Bắc, sau cúm, tiêu chảy và thủy đậu8. Hơn 80% ca bệnh gặp ở trẻ dưới 15 tuổi9. Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy bệnh phổ biến nhất ở lứa tuổi 6–12, xuất hiện chủ yếu vào mùa đông, với tỷ lệ nam cao hơn nữ; nhóm có biến chứng thường lớn tuổi hơn và có tỷ lệ nam:nữ cao hơn đáng kể10.
6. Giá trị của vắc-xin trong phòng chống bệnh Quai bị
Việc triển khai chương trình tiêm chủng vắc-xin phòng Quai bị đã mang lại những thành tựu rõ rệt trong kiểm soát bệnh Quai bị12. Theo CDC, phác đồ hai liều vắc-xin MMR giúp phòng ngừa Quai bị với hiệu quả trung bình khoảng 86%, phác đồ một liều đạt khoảng 72%, góp phần giảm số ca mắc Quai bị tại các quốc gia có chương trình tiêm chủng rộng rãi11.
Tại Hoa Kỳ, nhờ áp dụng chương trình tiêm chủng thường quy với phác đồ một liều từ năm 1977 và hai liều từ năm 1989, số ca mắc Quai bị đã giảm hơn 99%, từ hơn 152.000 ca năm 1968 xuống dưới 300 ca mỗi năm vào đầu những năm 2000, thể hiện hiệu quả to lớn của tiêm chủng cộng đồng trong kiểm soát dịch bệnh4.
Ở đa số cá nhân, vắc-xin không chỉ giúp ngăn ngừa các biểu hiện lâm sàng nặng và biến chứng sau khi nhiễm vi-rút, mà còn giảm đáng kể khả năng lây truyền trong cộng đồng, qua đó góp phần duy trì miễn dịch cộng đồng13.
Chú thích
ECDC = European Centre for Disease Prevention and Control = Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Dịch bệnh châu Âu
EU/EEA = European Union/ European Economic Area = Liên minh châu Âu / Khu vực Kinh tế châu Âu
Tài liệu tham khảo
1. Centers for Disease Control and Prevention. (2025, January 17). Clinical overview of mumps. https://www.cdc.gov/mumps/hcp/clinical-overview/index.html. Accessed 24/10/2025.
2. Guerra, F. M., Bolotin, S., Lim, G., Heffernan, J., Deeks, S. L., Li, Y., & Crowcroft, N. S. (2017). The basic reproduction number (R0) of measles: a systematic review. The Lancet Infectious Diseases, 17(12), e420-e428.
3. Centers for Disease Control and Prevention. (2025, July 11). About mumps. https://www.cdc.gov/mumps/about/index.html. Accessed 24/10/2025
4. Centers for Disease Control and Prevention. (2025, June 18). Chapter 9: Mumps. In Manual for the Surveillance of Vaccine-Preventable Diseases. U.S. Accessed 24/10/2025
5. Centers for Disease Control and Prevention. (2024, June 5). Clinical features of mumps. U.S. Department of Health and Human Services. https://www.cdc.gov/mumps/hcp/clinical-signs/index.html. Accessed 24/10/2025
6. Centers for Disease Control and Prevention. (2024). Chapter 15: Mumps. In Epidemiology and Prevention of Vaccine-Preventable Diseases (The Pink Book). U.S. Department of Health and Human Services. https://www.cdc.gov/pinkbook/hcp/table-of-contents/chapter-15-mumps.html. Accessed 24/10/2025
7. European Centre for Disease Prevention and Control. (2024, April 22). Mumps – Annual epidemiological report for 2022. ECDC. https://www.ecdc.europa.eu/sites/default/files/documents/mumps-annual-epidemiological-report-for-2022.pdf
8. Nam, H. Y. H. D. P. V. (21/10/2025). Tình hình bệnh truyền nhiễm khu vực miền Bắc 9 tháng đầu năm 2013.
http://tcyhdp.vjpm.vn/tin-tuc/thong-bao-dich/tinh-hinh-benh-truyen-nhiem-khu-vuc-mien-bac-9-thang-dau-nam-2013-o81E21043. Accessed 24/10/2025
9. Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh. (21/10/2025). Bệnh Quai bị đang vào mùa. https://hcdc.vn/hoidap/index/chitiet/eeb6f5d9e1ee1d6dcb9226359fca7721. Accessed 24/10/2025
10. Đậu Việt, H., Thiều Quang, Q., Phạm Nhật, A., & Nguyễn Văn, L. (2025). ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG BỆNH QUAI BỊ TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG. Tạp Chí Y học Việt Nam, 547(3). https://doi.org/10.51298/vmj.v547i3.13123
11. Centers for Disease Control and Prevention. (2024, September 20). Mumps vaccine recommendations: Information for healthcare professionals. https://www.cdc.gov/mumps/hcp/vaccine-considerations/index.html. Accessed 04/11/2025
12. Ugai, S., Ugai, T., Kanayama, T., Kamiya, H., Saitoh, A., & Slopen, N. (2023). Mumps vaccine hesitancy: current evidence and an evidence-based campaign in Japan. Vaccine, 41(41), 6036-6041.
13. Connell, A. R., Connell, J., Leahy, T. R., & Hassan, J. (2020). Mumps outbreaks in vaccinated populations—is it time to re-assess the clinical efficacy of vaccines?. Frontiers in immunology, 11, 2089.
Bài viết liên quan
VN-MMR-00243 14012028